Biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp và trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu, mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và các bệnh không lây nhiễm ngày càng được các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, cộng đồng trong nước và quốc tế quan tâm sâu sắc. Nhiệt độ tăng cao, ô nhiễm không khí, biến đổi về chế độ mưa, hạn hán, lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người mà còn làm thay đổi các yếu tố nguy cơ, điều kiện phơi nhiễm và gia tăng gánh nặng bệnh tật của các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh hô hấp mạn tính, ung thư và các rối loạn sức khỏe tâm thần.

Các đại biểu tham dự phiên toàn thể

Ngày 29 tháng 8, hội thảo khoa học chủ đề trên được tổ chức. TS.Hồ Đắc Thái Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Huế, đã phát biểu bài tham luận dẫn đề. GS.TS.BS Phạm Như Hiệp, Giám đốc bệnh viện Trung ương Huế, Chủ tịch Hội Ung thư thành phố đã tham dự và có bài chia sẻ.

Theo TS. Hoàng, Các bệnh không lây nhiễm gây ra khoảng 75% số ca tử vong trên toàn cầu không liên quan đại dịch trong năm 2021. Tại thành phố Huế, nghiên cứu chuỗi thời gian tử vong giai đoạn 2009-2013 cho thấy nguy cơ tương đối có giá trị 1,42 ở người cao tuổi, 2,45 ở người mắc bệnh hô hấp và 1,6 ở người mắc bệnh tim mạch. Các báo cáo hội thảo đã làm rõ tác động của biến đổi khí hậu, các yếu tố môi trường cực đoan và thiên tai đến các bệnh không lây nhiễm, bao gồm: nguy cơ mắc các bệnh hô hấp, gia tăng đợt cấp hen phế quản, COPD, ung thư phổi và chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA); nguy cơ đột quỵ, tử vong và nhập viện do bệnh tim mạch; bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi, kiểm soát đường huyết, tăng huyết áp; nguy cơ mắc bệnh, chăm sóc giảm nhẹ, gián đoạn điều trị và dịch vụ chăm sóc thiết yếu bệnh ung thư; hành vi, cảm xúc của trẻ rối loạn phổ tự kỷ, sức khỏe tâm thần cộng đồng (trầm cảm, lo âu) và rối loạn stress sau sang chấn.

Các mô hình chăm sóc thích ứng được đề xuất bao gồm: mô hình can thiệp lâm sàng phù hợp với điều kiện khí hậu và giám sát môi trường trong chuyên ngành hô hấp; áp dụng khung Climate Cardiology, hệ thống cảnh báo sớm dựa trên ngưỡng nhiệt và các biện pháp can thiệp lâm sàng - cộng đồng phù hợp bối cảnh Việt Nam; mô hình chăm sóc liên tục, chiến lược dinh dưỡng thích ứng khí hậu và hướng dẫn lâm sàng cụ thể cho chuyên ngành nội tiết - đái tháo đường tại Việt Nam; chiến lược thích ứng trong thực hành ung bướu, tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống chăm sóc ung thư và phát triển “green anesthesia” nhằm giảm phát thải carbon từ phòng mổ, chăm sóc sức khỏe tâm thần từ xa, sử dụng thang đo lo âu sinh thái phù hợp ở Việt Nam và mô hình can thiệp cộng đồng thích ứng khí hậu.

Các bệnh lý về hô hấp và các yếu tố nguy cơ do ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu

Trong khuôn khổ hội thảo, sau phiên toàn thể, các phiên chuyên đề liên quan đến biến đổi khí hậu cũng được tiến hành. Các bác sĩ tham dự phiên hô hấp và các yếu tố nguy cơ do ô nhiễm không khí được nghe các báo cáo viên chia sẻ các ảnh hưởng và tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí đến sức khỏe đường hô hấp.

Biến đổi khí hậu và các bệnh hô hấp tại Việt Nam: từ cơ chế bệnh sinh đến mô hình chăm sóc thích ứng.

Theo Ths.BS.CKII Hoàng Thị Lan Hương, Nguyên Phó Giám đốc bệnh viện Trung ương Huế, biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí đang là những thách thức quan trọng hàng đầu của thế kỷ XXI. Hệ hô hấp là cơ quan chịu tác động trực tiếp và liên tục từ môi trường bên ngoài. Bài báo cáo nêu tổng quan về mối liên quan nhân quả hai chiều giữa Biến đổi khí hậu và Ô nhiễm không khí, các cơ chế bệnh sinh phân tử, và đề xuất mô hình giải pháp thích ứng toàn diện cho ngành Hô hấp tại Việt Nam. (đặc biệt là bụi mịn PM₂.₅, O₃, NO₂) xâm nhập sâu vào phế nang, khởi phát chuỗi đáp ứng stress oxy hóa, viêm đường thở mạn tính, rối loạn chức năng miễn dịch và tái cấu trúc nhu mô phổi. Tại Việt Nam, nồng độ PM₂.₅ trung bình năm đạt 21 µg/m³ (cao gấp 4 lần khuyến nghị của WHO năm 2021), liên quan đến hơn 70.000 trường hợp tử vong mỗi năm. Dữ liệu thực tế ghi nhận ô nhiễm môi trường làm gia tăng rõ rệt tỷ lệ nhập viện cấp cứu vì đợt cấp hen phế quản, Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và ung thư phổi, đặc biệt ở trẻ em và người cao tuổi.

Ths.BS.CKII Hoàng Thị Lan Hương trình bày

Nhằm ứng phó hiệu quả, hệ thống y tế cần chuyển đổi từ mô hình tập trung điều trị sang mô hình "Chăm sóc hô hấp thích ứng với biến đổi khí hậu" gồm 6 nội dung: (1) Giám sát - dự báo sớm dựa trên AI tích hợp dữ liệu khí tượng và bệnh tật; (2) Dự phòng giảm phơi nhiễm cá thể hóa (kê đơn hướng dẫn theo chỉ số AQI); (3) Quản lý bệnh mạn tính liên tục tại y tế cơ sở và phục hồi chức năng hô hấp; (4) Tăng cường ứng dụng công nghệ số, mHealth và Tele-respiratory; (5) Dự phòng miễn dịch chủ động bằng vắc-xin hô hấp (Cúm, Phế cầu, RSV); và (6) Nghiên cứu, xây dựng dữ liệu quốc gia và thực thi chính sách "Y tế xanh" (giảm dấu chân carbon từ bình xịt định liều MDI). Đầu tư cho chất lượng không khí và khả năng chống chịu của hệ thống hô hấp hôm nay chính là đầu tư cho sức khỏe của người Việt Nam trong tương lai.  

Quản lý hen phế quản và COPD trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí: từ hướng dẫn GOLD 2026 và GINA 2026 đến thực hành tại Việt Nam

PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan, Phó Chủ tịch Hội Hô hấp Việt Nam, Chủ tịch Hội Hen Dị ứng Miễn dịch Lâm sàng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, Biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí đang ngày càng trở thành những yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), đặc biệt trong bối cảnh các hiện tượng thời tiết cực đoan, cháy rừng, mưa bão, lũ lụt và gia tăng các chất ô nhiễm trong môi trường. Các yếu tố này có thể làm gia tăng phơi nhiễm với dị nguyên, nấm mốc, khói thuốc lá, khói từ chất đốt sinh khối và các chất ô nhiễm như PM2.5, PM10, NO₂ và SO₂, từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện bệnh và các đợt kịch phát, nhập viện và tử vong.

PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan chia sẻ

Đối với hen phế quản, kiểm soát triệu chứng, duy trì chức năng hô hấp và phòng ngừa đợt cấp là những mục tiêu quan trọng. Bên cạnh điều trị bằng thuốc dạng hít, việc hạn chế phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ môi trường, chẩn đoán sớm và tiêm chủng phù hợp có vai trò thiết yếu.

Đối với COPD, hút thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ chính, trong khi ô nhiễm không khí trong nhà, chất đốt sinh khối và phơi nhiễm nghề nghiệp cũng góp phần đáng kể vào sự phát sinh và tiến triển bệnh. Biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng các yếu tố kích phát thông qua thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, sự gia tăng dị nguyên và nhiễm trùng đường hô hấp. Vì vậy, quản lý hen và COPD cần kết hợp giữa điều trị y tế, kiểm soát các yếu tố nguy cơ cá nhân và môi trường, nâng cao khả năng tự bảo vệ của người bệnh, đồng thời tăng cường các chính sách giảm ô nhiễm không khí. Vai trò của Nhà nước trong kiểm soát và giảm ô nhiễm không khí có ý nghĩa then chốt đối với việc phòng ngừa và giảm gánh nặng bệnh hô hấp.

Hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA) trong thời đại biến đổi khí hậu: thực trạng và giải pháp

GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ trình bày bằng hình thức trực tuyến

GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ nhấn mạnh, Biến đổi khí hậu đang trở thành một yếu tố môi trường quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe giấc ngủ và có khả năng làm thay đổi gánh nặng của hội chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA). Bài tổng quan này phân tích các bằng chứng hiện có về mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, rối loạn giấc ngủ và OSA, đồng thời đề xuất định hướng dự phòng trong bối cảnh Việt Nam.

Các nghiên cứu cho thấy nhiệt độ ban đêm tăng làm giảm thời lượng và chất lượng giấc ngủ, đặc biệt ở người cao tuổi và các nhóm dễ tổn thương. Ô nhiễm không khí, nhất là PM2.5 và NO₂, có liên quan với mức độ nặng của OSA thông qua viêm đường hô hấp trên, stress oxy hóa và rối loạn điều hòa hô hấp, mặc dù bằng chứng về vai trò gây bệnh trực tiếp vẫn chưa thống nhất. Bên cạnh đó, nắng nóng kéo dài, cháy rừng, dị nguyên và những thay đổi về lối sống có thể gián tiếp làm tăng nguy cơ OSA thông qua giảm hoạt động thể lực, béo phì và phân mảnh giấc ngủ.

Do vậy, OSA cần được tiếp cận như một bệnh lý chịu tác động của hệ sinh thái môi trường, thay vì chỉ là rối loạn xảy ra trong khi ngủ. Các giải pháp ưu tiên bao gồm cải thiện môi trường ngủ, kiểm soát ô nhiễm không khí, quản lý cân nặng, duy trì điều trị CPAP trong các hiện tượng khí hậu cực đoan và tích hợp yếu tố môi trường vào đánh giá lâm sàng. Ở cấp độ hệ thống, cần phát triển mô hình “Y học giấc ngủ xanh”, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm khí hậu – giấc ngủ và thúc đẩy nghiên cứu kết hợp dữ liệu giấc ngủ với dữ liệu khí tượng và chất lượng không khí.

Trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, việc lồng ghép sức khỏe giấc ngủ và OSA vào các chiến lược thích ứng khí hậu và phòng chống bệnh không lây nhiễm sẽ góp phần giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

PGS.TS.BS Lê Thị Tuyết Lan và Ths.BS.CKII Hoàng Thị Lan Hương chụp hình lưu niệm với các bác sĩ tham dự phiên chuyên đề hô hấp

 

Tin và ảnh: Trần Thanh Lộc